Hiển thị các bài đăng có nhãn benh-tim-mach. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn benh-tim-mach. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Công dụng của rau má rất tốt cho bệnh tim mạch

Đã từ lâu, rau má được sử dụng với mục đích y học. Tuy nhiên, mặc dù rau má an toàn khi sử dụng theo chỉ dẫn của bác sĩ nhưng không nên dùng quá 6 tuần mà không tham khảo ý kiến bác sĩ. 
Rau má là một loại thảo dược lâu năm, mọc lan trên mặt đất có lá trông giống như những đồng tiền tròn tạo hình quạt. Rau má là một thứ rau dại ăn được thường mọc ở những nơi ẩm ướt như thung lũng, bờ mương thuộc những vùng nhiệt đới như Việt Nam, Lào, Cambuchia, Indonesia, Malasia, Srilanka, Ấn Độ… Lá có cuống dài mọc ra từ gốc hoặc từ các mấu. Lá hơi tròn, có mép khía tai bèo. Phiến lá có gân dạng lưới hình chân vịt. Hoa mọc ở kẻ lá. Cánh hoa màu đỏ hoặc tía.
rau-ma-tot-cho-benh-tim-mach
Ảnh minh họa
Đã từ lâu, rau má được sử dụng với mục đích y học. Tuy nhiên, Học viện Y tế tại Hoa Kỳ và châu Âu gần đây đã đưa ra một mối quan tâm đến loại thảo dược có lợi cho sức khỏe này và kết luận, mặc dù rau má an toàn khi sử dụng theo chỉ dẫn của bác sĩ nhưng không nên dùng quá 6 tuần mà không tham khảo ý kiến bác sĩ. Ngoài ra, những người mắc bệnh gan hoặc có tiền sử các bệnh tổn thương da, ung thư không nên dùng rau má. Dù sao thì cũng không thể phủ nhận một vài công dụng của rau má trong y học như sau:

Tốt cho các bệnh tim mạch

Rau má có thể giúp giảm sưng và cải thiện lưu thông trong cơ thể, nhất là với các bệnh liên quan đến tĩnh mạch như giãn tĩnh mạch và suy tĩnh mạch. Một nghiên cứu được công bố năm 2001 cho biết, bệnh nhân có tĩnh mạch tăng huyết áp dùng giả dược hoặc rau má trong khoảng thời gian 4 tuần thì đến tuần cuối cùng thấy giảm đáng kể phù mắt cá chân, sưng, đau, chuột rút và mỏi ở chân so với giả dược.

Làm lành vết thương

Rau má có chứa hóa chất được gọi là triterpenoidscó công dụng tăng tốc độ chữa lành vết thương, tăng cường chất chống oxy hóa tại vị trí vết thương, tăng cường da và tăng cung cấp máu cho khu vực bị thương. Một nghiên cứu năm 2006 đã kiểm tra tác động của rau má vào vết thương ở chuột. Các nghiên cứu cho thấy rằng các vết thương được điều trị với nước chiết xuất từ lá rau má lá có thể chữa lành nhanh hơn đáng kể hơn so với các vết thương không được điều trị bằng chiết xuất này. Mặc dù thử nghiệm trên người chưa được thực hiện đầy đủ nhưng bằng chứng này xuất hiện có thể xác nhận việc sử dụng loại thảo dược rau má như là một thảo dược có tá dụng chữa lành vết thương.

Giảm lo âu

Triterpenoids trong rau má cũng có thể làm giảm sự lo lắng và tăng cường chức năng tâm thần trong một số cá nhân. Theo một nghiên cứu, xuất bản trong tạp chí Journal of Clinical Psychopharmacology năm 2000, những người tiêu thụ rau má có thể giảm sự giật mình đi rất nhiều. Trong khi những phát hiện này cho thấy rau má có thể có hoạt động chống lo âu ở người, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng hiệu quả điều trị các triệu chứng lo âu vẫn còn chưa rõ ràng.

Các lợi ích khác

Từ hàng ngàn năm nay, các thầy lang đã biết dùng rau má để điều trị cho các bệnh như bệnh vẩy nến, eczema, nhiễm trùng hô hấp, viêm loét, cảm lạnh, viêm gan, động kinh, mệt mỏi, sốt, hen suyễn và bệnh giang mai…

Trong y học Trung Quốc, rau má cũng được biết đến là loại thảo dược “nguồn mạch sự sống” bởi vì nó giúp làm tăng tuổi thọ. Mặc dù nghiên cứu khoa học vẫn chưa chứng minh hiệu quả của của loại thảo dược này đối với các rối loạn trong cơ thể, nhưng người ta cũng không phủ nhận tác dụng của rau má trong việc điều trị chứng mất ngủ, xơ cứng bì, ung thư, rối loạn tuần hoàn, tăng huyết áp, mất trí nhớ, liền sẹo và giảm nốt cục trên da cellulite.

Tác dụng phụ có thể có khi dùng rau má

Trong một số trường hợp, rau má làm tăng lượng cholesterol và lượng đường trong máu, vì vậy những người có cholesterol cao và bệnh tiểu đường nên tránh lạm dụng sử dụng rau má quá nhiều. Thảo mộc này cũng có thể dẫn đến sẩy thai nếu sử dụng trong thời kỳ mang thai. Do vậy, trẻ em, phụ nữ mang thai và đang cho con bú cũng nên tránh dùng loại rau này.

Rau má có thể tương tác với các thuốc gây buồn ngủ và thuốc chống co giật, barbiturat, benzodiazepin, thuốc mất ngủ, và các thuốc chống trầm cảm… Nó cũng có thể làm giảm hiệu quả của insulin và thuốc tiểu đường uống khác, cũng như các thuốc hạ cholesterol. Rau má cũng có thể có một tác dụng làm giảm tác dụng an thần khi dùng với các loại thuốc cảm lạnh và ho, hoặc khi uống rượu.

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Ăn trái cây mỗi ngày làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch

Thói quen ăn trái cây hàng ngày giúp mọi người giảm nguy cơ bệnh tim mạch tới 25-40% so với những ai hoàn toàn nói không với hoa quả. 
Các nhà khoa học cho biết ăn trái cây càng thường xuyên, nguy cơ càng có chiều hướng giảm xuống và khuyến nghị mức 1,5 khẩu phần một ngày, tức khoảng 150 g để hiệu quả đạt được tốt nhất. Mức này tương đương một quả táo và nửa trái chuối mỗi ngày.
Ảnh minh họa
Trong những nghiên cứu liên quan khác sử dụng dữ liệu cùng nguồn, các nhà khoa học còn đưa ra tác dụng khác của trái cây trong đó có lợi ích giảm huyết áp. 150 g hoa quả mỗi ngày giúp huyết áp tâm thu/tâm trương giảm tương ứng 3.4/4.1 mmHg so với những người không ăn trái cây. Ngoài ra, tiêu thụ trái cây hàng ngày giảm nguy cơ tử vong nói chung xuống 32%. Tương tự, thói quen này hạ thấp tỷ lệ tử vong do bệnh tim và đột quỵ xuống lần lượt 27% và 40%.

Nghiên cứu vừa được công bố không phải là công trình đầu tiên đưa ra khuyến cáo về tác dụng của trái cây và rau củ trong bảo vệ sức khỏe tim mạch cho con người. Trước đây, các công trình khác cũng khẳng định trái cây là thực phẩm tuyệt vời trong quá trình chống oxy hóa và các hóa chất độc hại trong cơ thể. Tuy vậy, thói quen bổ sung hợp lý trái cây vào khẩu phần hàng ngày vẫn chưa được nhận thức và thực hiện đầy đủ vì nhiều lý do.
Ảnh minh họa
‘Các bệnh nhân tim và huyết áp cao nên được khuyến khích ăn nhiều trái cây tươi’, Giáo sư Zhengming Chen của nghiên cứu đưa ra lời khuyên.

Ông cho biết, nhiều nước phương Tây đã giảm đáng kể số ca tử vong do bệnh tim mạch trong những thập kỷ qua vì những nguyên nhân chưa thể giải thích đầy đủ. Tăng cường trái cây tươi vào thực đơn hàng ngày là một trong những yếu tố góp phần tích cực vào xu hướng này.

Còn theo ý kiến Tracy Parker, chuyên gia sức khỏe tim mạch Quỹ Tim mạch Anh, nghiên cứu đã góp thêm chứng cứ khẳng định càng ăn nhiều trái cây, sức khỏe càng được cải thiện. ‘Thậm chí chỉ một phần trái cây tươi mỗi ngày có thể giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch. Nó khiến bạn lưu tâm hơn tới việc ăn thêm nhiều hoa quả để bảo vệ sức khỏe’, bà nhận xét.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2015

Các thực phẩm chữa bệnh cao huyết áp

Huyết áp cao là một trong những bệnh phổ biến nhất hiện nay và thường gặp ở những người lớn tuổi. Nếu không muốn dùng thuốc các bạn có thể sử dụng những loại thực phẩm từ tự nhiên dưới đây để chữa bệnh cao huyết áp.

Nước cam
nuoc-ep-cam-tot-cho-nguoi-bi-cao-huyet-ap
Ảnh minh họa
Trong nước cam có chứa thành phần hữu ích chủ yếu là hesperidin và vitamin C có tác dụng chống oxy hóa, làm giảm sự xâm hại của các gốc tự do đối với huyết quản, hàm lượng kali phong phú trong nước cam càng bổ trợ cho việc hạ áp. Nếu mỗi ngày uống nửa lít nước cam, trong vòng một tháng bạn sẽ thấy huyết áp giảm rõ rệt.

Quả kiwi
qua-kiwi-lam-ha-huyet-ap
Ảnh minh họa
Học viện trực thuộc Đại học Oslo có một nghiên cứu mới nói rằng, mỗi ngày ăn 3 quả kiwi có thể hạ huyết áp rõ rệt. Bởi công hiệu hạ huyết áp của quả kiwi chính là do nó có chứa nhiều chất Lutein – một loại chất chống oxy hóa.

Tỏi
Nhiều người không thích mùi của tỏi thế nhưng nó lại là loại gia vị rất tốt cho hệ thống tim mạch, bao gồm cả huyết áp. Theo một nghiên cứu trước đây, những người bị cao huyết áp nếu ăn một nhánh tỏi mỗi ngày trong vòng 12 tuần, huyết áp tâm trương và mức cholesterol đã giảm đáng kể. Ăn một ít tỏi mỗi ngày (khoảng 1 nhánh) sẽ giúp kiểm soát huyết áp ổn định.

Bông cải xanh
Glucoraphanin, còn được biết đến với tên gọi là sulforaphane glucosinolate (SGS), một hợp chất tự nhiên có trong bông cải xanh, có khả năng hạn chế nguy cơ của chứng huyết áp cao, bệnh về tim mạch cũng như các cơn đột quỵ.
bong-cai-xanh-tot-cho-tim=mach
Bông cải xanh tốt cho bệnh tim mạch
Mộc nhĩ
Mộc nhĩ chứa nhiều kali nên rất thích hợp cho người bệnh tăng huyết áp. Trong mộc nhĩ chứa chất axít tác dụng hạ cholesterol trong máu. Chất keo trong mộc nhĩ có tính kết dính mạnh, có tác dụng kết hút các chất cặn thừa trong cơ thể, bài thải ra ngoài theo đường tiêu hóa. Glucoxit purin trong mộc nhĩ làm giảm khả năng tắc mạch máu não do tăng huyết áp gây nên.

Cà chua
Chất lycopene trong cà chua rất hiệu quả trong việc giảm huyết áp cao. Đây là kết luận được bác sĩ Eshter Paran - chủ nhiệm khoa huyết áp thuộc TT Y tế Soroka đưa ra. Theo nghiên cứu này thì việc bổ sung cà chua vào chế độ ăn giúp giảm áp 10 chỉ số áp lực máu lên tâm thu và 4 chỉ số ở tâm trương.

Hành tây
Hành tây tính ấm, vị cay, rất tốt cho các bệnh tăng huyết áp, hành tây có thể làm tan bớt búi tắc mạch máu não, ức chế cholesterol trong máu tăng cao do ăn uống các thực phẩm nhiều chất béo. Hành tây có lượng canxi phong phú nên thường xuyên ăn hành tây sẽ bổ sung lượng canxi trong máu giúp hạ huyết áp. Những chất có trong hành tây có thể giảm bớt sức cản của huyết quản ngoại biên và động mạch vành tim để ổn định huyết áp.

Các cây thuốc quý chữa bệnh tim mạch

Bệnh tim mạch do mạch máu vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Xin giới thiệu một vài bài thuốc quý chữa bệnh tim mạch cho bạn đọc tham khảo.
Đan sâm: trước đây phải nhập từ Trung Quốc nhưng hiện tại đã trồng được ở Việt Nam. Đan là đỏ, sâm là sâm vì rễ cây này giống sâm mà lại có màu đỏ.
Thu hoạch ở Tam Đảo về mùa đông, đào rễ, rửa sạch, cắt bỏ cây và rễ con, phơi hoặc sấy khô.
Đan sâm có tác dụng hoạt huyết, bổ huyết, đặc hiệu trên tim và mạch vành, rối loạn vận mạch (co thắt động mạch, vành tim), di chứng tai biến mạch máu não.
Củ tam thất
Tam thất
Người ta coi Tam thất là một loại thuốc bổ như Nhân sâm, được dùng thay Nhân sâm.
Tam thất còn chữa các bệnh do huyết ứ trệ (co thắt động mạch vành, thiếu máu, suy nhược cơ thể). Hiện ngoài thị trường có bán thuốc Đan sâm – Tam thất để chữa bệnh đau thắt ngực, thiểu năng mạch vành… Mỗi viên thuốc có 1g Đan sâm và 0,07g Tam thất, ngày uống 3 viên 1 lần, ngày 3 lần. Thuốc không dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh, người sốt cao, sốt xuất huyết.

Cây dừa cạn
Cây dừa cạn
Cây Dừa cạn mọc hoang dại và được trồng ở nhiều nước nhiệt đới như Việt Nam, ấn Độ, Châu Phi…
Các hoạt chất nổi tiếng là Vinca leuco blastin Leurocristin và Leurosidin chữa các bệnh có khối u như bệnh Hodgkin. ở Việt Nam, nhân dân dùng cây, lá và rễ chế thuốc sắc chữa huyết áp, tiểu đường và làm thuốc lợi tiểu. Ngày dùng 10 – 16g.

Cây hòe hoa
Tên khoa học là Sophora japonica L.; họ Cánh bướm (papilionaceae). Cây mọc hoang và trồng ở khắp nơi trong nước ta. Trong hoa và quả có chất Rutin dùng cho bệnh nhân cao huyết áp để tăng cường sức chịu đựng của mao mạch. Rutin làm thuốc viên 0,02g, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 hay 2 viên.

Cây Cúc hoa 
Cây Cúc hoa thuộc họ Cúc (asteraceae). Cây được trồng nhiều ở nước ta để ướp chè, chữa cao huyết áp. Liều dùng 9 – 15g ở dạng thuốc sắc (dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác).
Trên thị trường có bán Trà tan Casoran bao gồm Dừa cạn, Hoa hoè, Cúc hoa kết hợp với Tâm sen, Cỏ ngọt để chữa các bệnh tăng huyết áp (thể nhẹ và vừa); tăng cholesterol máu, xơ vữa động mạch, có nguy cơ tai biến mạch máu não.
Liều dùng mỗi ngày 3 – 4 lần (mỗi lần một gói), duy trì ngày 2 lần mỗi lần 1 gói. Hoà tan 1 gói vào 100ml nước nóng rồi uống.
Cây bạch quả
Cây bạch quả
Ở miền Bắc Việt Nam, nhà thực vật học người Pháp Pételot phát hiện cây này ở một số vườn hoa và quanh một số ngôi chùa để làm cảnh.
Cao lá chứa 242 gingkgo glucosid và 6% các gingkgolid bilobahd viên nén có 40mg cao khô lá Bạch quả. Lọ 30ml dung dịch cũng có 40mg cao cho 1ml.
Công dụng: Phòng và điều trị tai biến mạch máu não. Giảm trí nhớ và kém tập trung tư tưởng ở người cao tuổi chống stress.
Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1ml dung dịch hay 1 viên nén vào bữa ăn. Xí nghiệp dược phẩm Hà Nội có bán biệt dược HanoKan chứa hoạt chất cây Bạch quả.
Lưu ý: Phụ nữ có thai không dùng thuốc này. Thuốc ít thấy phản ứng phụ (rối loạn tiêu hoá, nhức đầu, dị ứng ngoài da)

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Các món ăn bồi bổ sức khỏe lại tốt cho tim mạch

Người loạn nhịp tim dạng tâm thận dương hư thường cảm thấy run sợ, lo lắng, bực bội, ít ngủ, cổ họng và lưỡi khô, trong người nóng bức, ra mồ hôi trộm, một số món ăn dưới đây bổ tim, tốt cho người loạn nhịp tim.

Nhân sâm nấu gà: Nhân sâm 10g, mạch đông 10g, ngũ vị tử 19g, thịt gà 150g, xì dầu 10g, muối 5g, gừng 5g, hành 10g, cà rốt 100g, nấm đông cô 50g, dầu ăn 50g, canh gà 500ml.

Nhân sâm ngâm nở; Mạch đông bỏ tim; Ngũ vị tử rửa sạch, hành cắt khúc, gừng cắt miếng, cà rốt cắt miếng vuông khoảng 4cm, nấm ngâm nở, rửa sạch, thịt gà cắt miếng.

Để chảo nóng đổ dầu vào, đợi dầu nóng bỏ hành, gừng vào phi cho thơm, rồi bỏ gà vào, bỏ nấm, cà rốt, ngũ vị tử, mạch đông, nhân sâm vào, xào cho đều, đổ canh gà vào, vặn lửa nhỏ hầm cho đến khi chín. Ngày ăn 1 lần, ăn 3 – 5 ngày.

Mực xào nấm đông cô: Thiên đông 12g, mạch đông 12g, mực 100g, cần tây 100g, nấm đông cô 50g, rượu 10g, xì dầu 10g, muối 5g, hành 10g, gừng 5g, canh gà 300ml, dầu 50g.

Thiên môn đông rửa sạch, cắt miếng, mạch đông bỏ tim; Mực rửa sạch, cắt dài khoảng 4cm, ngang 2cm; Cần tây rửa sạch, cắt khúc khoảng 4cm; Nấm cắt 2cm; Hành cắt khúc; gừng cắt lát. Mạch đông, thiên đông bỏ vào nồi nhỏ, đổ vào 100ml canh gà, chưng cho chín.

Để cháo lên lửa lớn, đợi chảo nóng đổ dầu vào, đợi dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi cho thơm, rồi bỏ mực vào xào sơ, sau đó bỏ nấm, cần tây, thiên đông, mạch đông, xì dầu, muối, canh gà và xào cho chín thì dùng được. Ngày một lần, dùng trong bữa chính, mỗi lần ăn 50g mực.

Ngọc trúc tim heo: Ngọc trúc 15g, mạch đông 10g, thiên đông 10g, đại táo 10 quả, tim heo 1/2 quả, rượu 10g, hành 10g, gừng 5g, muối 5g, canh gà 1.000ml, cải non 200g, dầu ăn 50g.


Ngọc trúc rửa sạch, cắt khúc; mạch đông bỏ tim; Thiên đông cắt miếng, táo bỏ hột; Tim heo luộc sơ trong nước sôi, vớt ra cắt miếng; gừng đập dập, hành cắt khúc.

Để chảo nóng đổ dầu vào, đợi dầu nóng bỏ hành, gừng vào phi cho thơm, rồi đổ canh gà vào, canh gà sôi bỏ ngọc trúc, mạch đông, thiên đông, táo, rượu, muối và tim heo vào, vặn lửa nhỏ nấu thêm 20 phút. Ngày 1 lần, mỗi lần ăn 1/2 tim heo.

Dương sâm mạch đông: Sâm tây dương 10g, mạch đông 10g, ngũ vị tử 9g, đường 6g.
Sâm ngâm nở, cắt lát mỏng, mạch đông bỏ tim; Ngũ vị tử rửa sạch. Bỏ tất cả vào nồi, đổ vào 200ml nước.

Nấu sôi bằng lửa lớn, vặn lửa nhỏ nấu thêm 15 phút thì dùng được. Uống thay nước.

Song nhĩ xào mực: Ngân nhĩ 15g, nấm mèo 20g, mực tươi 200g, rượu 10g, gừng 5g, hành 10g, muối 5g, cần tây 50g, dầu ăn 50g.

Ngân nhĩ, nấm mèo ngâm cho nở, xé miếng; Mực rửa sạch, cắt miếng dài 4cm, ngang 3cm, cần tây rửa sạch, cắt khúc khoảng 4cm; Hành cắt khúc; Gừng cắt lát.

Để chảo lên lửa lớn, đợi chảo nóng đổ dầu vào, đợi dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi cho thơm, rồi bỏ mực vào xào sơ, sau cùng bỏ tất cả vào, xào cho chín thì dùng được. Ngày 1 lần, dùng trong bữa chính.

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

Thần dược chữa các bệnh tim mạch, dạ dày, xương khớp từ tỏi

Tỏi là một loại thực phẩm không thiếu trong các bữa ăn gia đình, ngoài tác dụng trong các món ăn tỏi còn là bài thuốc quý chữa được rất nhiều bệnh.
Tỏi tên khoa học Allium sativum L. thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae). Trong củ tỏi có chứa 0,10 - 0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S). Thành phần chủ yếu của tỏi là chất alicin có mùi đặc trưng tỏi. Nhưng trong tỏi tươi không có alicin ngay, mà có chất aliin (một loại acid amin) - chất này chịu tác động của enzym alinase cũng có trong củ tỏi khi giã giập mới cho alicin. Ngoài ra, củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng... đặc biệt là selen. Y học phương Đông ghi về tỏi như sau: vị cay, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn, trừ phong, thông khiếu, tiêu nhọt, hạch ở cổ, tiêu đờm...
toi-chua-benh-tim-mach-xuong-khop
Tỏi là phương thuốc quý chữa rất nhiều bệnh
Qua nghiên cứu phân tích cho thấy, rượu tỏi có thể chữa được 4 nhóm bệnh:
  • Các bệnh xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp...).
  • Bệnh đường hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản...).
  • Bệnh tim mạch (tăng huyết áp, huyết áp thấp, xơ vữa động mạch).
  • Bệnh đường tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày - tá tràng).
Cho tới năm 1983, các nhà y học Nhật Bản lại thông báo bổ sung thêm 2 nhóm bệnh nữa là: các bệnh trĩ, bệnh đái tháo đường và nhận xét đây là loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao và không gây phản ứng phụ.

Cách bào chế rượu tỏi và uống: Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40g thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100ml rượu trắng 40 - 45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được. Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương 1 thìa cà phê) trước khi ăn, tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng, uống liên tục suốt đời. Với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.

Sau này, tỏi lại được nhiều nhà khoa học ở nhiều nước nghiên cứu phát hiện nhiều đặc tính trị liệu quý của nó. Nổi bật là tác dụng kháng khuẩn, hoạt tính kháng nấm cũng đã được chứng minh - nghiên cứu dược lý thực nghiệm thấy tỏi có phổ kháng khuẩn và kháng nấm rộng. Tác dụng kháng virut cũng đã được nói đến. Với hệ tim mạch, những nghiên cứu mới cho thấy tỏi có tác dụng làm giảm triglycerid và giảm hàm lượng cholesterol xấu (LDL), nhưng lại tăng cholesterol tốt (HDL) do đó làm giảm các rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu. Tỏi còn có khả năng giúp cơ thể phòng ngừa ung thư, đó là điều nhiều nhà khoa học đã thừa nhận, song có điều trị được ung thư khi nó đã phát triển thành khối u hay không thì chưa chứng minh được, còn cần nghiên cứu tiếp.

Tỏi có nhiều hữu ích, đó là điều rõ ràng. Tuy nhiên, đã là thuốc thì phải tính đến liều lượng sử dụng thích hợp (thuốc dùng liều quá cao cũng có hại) và các phản ứng phụ, không nên lạm dụng. Nếu dùng tỏi quá nhiều có thể gây hơi thở hôi, rối loạn dạ dày - ruột, ức chế tuyến giáp... Bởi vậy, chỉ nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến. Với liều lượng ấy là có tác dụng phòng và chữa được nhiều bệnh. Coi trọng cách dùng an toàn là có thể dùng hàng ngày một cách lâu dài mà không lo nó gây ra những tác dụng xấu ngoài ý muốn.

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015

Các bài thuốc nam chữa bệnh tim mạch

Bệnh tim là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất hiện nay, là mối hiểm họa đối với tất cả mọi người. Các loại thuốc nam chữa bệnh tim là niềm hi vọng cho người bệnh nghĩ theo một chiều hướng lạc quan hơn. 

Như chúng ta đã biết thịt lươn có chứa thành phần dinh dưỡng rất cao với nhiều loại vitamin và khoáng chất. Trong việc chữa bệnh, lươn có tác dụng bồi dưỡng khí huyết, tiêu trừ phong thấp, có thể chữa được bệnh suy dinh dưỡng, kiết lị, đau nhức xương sống, trĩ nội, phong thấp,…Nhưng trong thời gian gần đây, lươn kết hợp với rau má còn được biết đến là loại thuốc nam chữa được bệnh tim hiệu quả. Nấu lươn và rau má với nước dừa, sau khi chín chỉ ăn lươn và uống hết nước dừa (đã sắc còn khoảng một chén). Cách một, hai ngày nấu ăn như thế một lần.


Không những có lươn mà thịt rùa cũng là loại thuốc nam chữa được bệnh tim được phát hiện. Tiết rùa pha với rượu trắng uống mỗi lần khi lên cơn đau tim, sẽ cho người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn. Còn thịt rùa sau khi lấy tiết, khoét phần yếm và cho phụ gia vào như: hạt sen, nếp, đậu xanh, rễ cây thiên hoa phấn, mỗi thứ một ít. Sau khi đun xong, cho vào ít tiêu, nước mắm rồi ăn. Người bị bệnh tim dùng xong sẽ có tác dụng. Không chỉ được biết là loại thuốc nam chữa được bệnh tim mà theo y học, thịt rùa còn có tác dụng tư âm giáng hỏa, bổ huyết, kiện cường gân cốt, trị các bệnh lao phổi, sốt về chiều, ho ra máu,…